Tìm Kiến

Tìm kiếm chọn lọc

Trưng bày chuyên đề “Linh vật Việt Nam”

Thứ sáu - 10/02/2017 21:55
Linh vật (những con vật linh thiêng) được con người sáng tạo và sử dụng như những biểu tượng văn hóa để truyền đạt ý tưởng, niềm tin tâm linh, tôn giáo và thể hiện thế giới quan, nhân sinh quan của mình. Linh vật thường được mô tả trong thần thoại, truyền thuyết và được biểu đạt trong nghệ thuật tạo hình. Người xưa tin rằng, linh vật là hiện thân của các lực lượng tự nhiên hoặc mang những đặc tính huyền bí, năng lực siêu nhiên có thể chi phối nhân sinh, vũ trụ.
Trưng bày chuyên đề “Linh vật Việt Nam”

Trưng bày chuyên đề “Linh vật Việt Nam”

Linh vật trong nghệ thuật tạo hình Việt Nam có nhiều loại khác nhau, do người Việt Nam sáng tạo nên hoặc giao lưu, tiếp biến từ các nền văn hóa bên ngoài, phản ánh sâu sắc đời sống tâm linh, văn hóa dân tộc. Mỗi linh vật trong tiến trình phát triển vừa thể hiện bản sắc riêng phù hợp với truyền thống văn hóa dân tộc, vừa mang đặc điểm, phong cách nghệ thuật đặc trưng riêng của mỗi thời kỳ lịch sử.
Trưng bày chuyên đề “Linh vật Việt Nam” giới thiệu 27 loại hình là các con vật linh thiêng, qua gần 100 hiện vật tiêu biểu hiện đang lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia. Tuy chưa thật đầy đủ nhưng trưng bày là cơ hội để công chúng khám phá, tìm hiểu về sự phong phú và độc đáo của linh vật Việt Nam nói chung cũng như nhận thức sâu sắc hơn về câu chuyện của mỗi linh vật nói riêng, qua đó khơi gợi ý thức dân tộc trong việc sử dụng các biểu tượng văn hóa hiện nay.
1. Chim Lạc
Chim Lạc là vật Tổ của cư dân Đông Sơn. Trong buổi đầu hình thành nhà nước Văn Lang - Âu Lạc, cư dân Việt cổ - chủ nhân sáng tạo văn hóa Đông Sơn đã định cư và liên kết vững chắc thành cộng đồng quốc gia - dân tộc. Lúc này, ý thức dân tộc đã nảy sinh và định hình, người Việt cổ đã bắt đầu xây dựng huyền thoại về Tổ tiên, nguồn gốc dân tộc qua tín ngưỡng thờ vật Tổ.


Hình Chim Lạc trên trống đồng Thọ Vực. Văn hóa Đông Sơn,
khoảng 2.500 - 2.000 năm cách ngày nay.
2. Rồng
Ở Việt Nam, hình tượng Rồng đã xuất hiện từ buổi đầu dựng nước Văn Lang - Âu Lạc và trở thành biểu tượng linh thiêng gắn với Tổ Tiên, cội nguồn dân tộc thông qua truyền thuyết “Con Rồng cháu Tiên”. Mặt khác, do nằm trong khu vực là cái nôi của nền văn minh lúa nước, Rồng Việt Nam còn giữ vai trò là một Phúc thần mang đến mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Trải qua tiến trình phát triển hơn 2 ngàn năm, hình tượng rồng trong nghệ thuật Việt Nam đã nhiều lần biến chuyển về đặc điểm, phong cách nghệ thuật, đồng thời mang thêm những ý nghĩa biểu tượng mới gắn với Thần quyền và vương quyền.
 
Hình Giao Long trang trí trên giáo đồng. Văn hóa Đông Sơn,
khoảng 2.500 - 2.000 năm cách ngày nay.
3. Kỳ Lân
Theo truyền thuyết, Kỳ Lân là linh vật biểu tượng cho lòng nhân từ, mỗi khi nó xuất hiện là điềm báo có thánh nhân, minh quân ra đời. Ở Việt Nam, hình tượng Kỳ Lân xuất hiện phổ biến từ thời Lê sơ (thế kỷ 15), khi Nho giáo phát triển đến đỉnh cao. Tạo hình Kỳ Lân tuy không hoàn toàn tuân thủ theo nguyên tắc của truyền thuyết nhưng đặc điểm nhận dạng cơ bản là thân của động vật móng guốc, phủ kín vảy cá.
Trong đời sống dân gian thường có sự lẫn lộn giữa Kỳ Lân và Sư tử, nhiều hình Sư tử cũng gọi là Lân. Tuy nhiên, theo điển chế nhà Lê và nhà Nguyễn, giữa Kỳ Lân và Sư tử có sự quy định khác biệt rất rõ ràng về hình thức, ý nghĩa biểu trưng. Theo đó, Kỳ Lân luôn có phẩm cấp cao hơn Sư tử. Thời Lê, Kỳ Lân biểu trưng cho hoàng tử, hoàng thái tử; Sư tử biểu trưng quan võ nhất, nhị phẩm. Thời Nguyễn, Kỳ Lân ứng với quan võ nhất phẩm, còn Sư tử dành cho quan võ tam phẩm.


Hình Kỳ Lân trên bia điện Nam Giao. Đá. Thời Lê Trung Hưng,
niên hiệu Vĩnh Trị 5 (1679)
4. Rùa và Long Mã
Rùa là con vật có thật được linh hóa, biểu trưng cho sự bền vững, trường tồn. Bởi vậy, Rùa thường được tạc trong hình thức đội bia đá, tháp Phật. Ngoài ra, Rùa cũng được trang trí trên các đồ vật, tượng trưng cho sự trường thọ của chủ nhân sử dụng.
Từ cuối thời Lê Trung Hưng (thế kỷ 17 - 18), Rùa thường xuất hiện thành cặp với Long Mã trong đề tài về Hà đồ - Lạc thư. Đây là cặp biểu tượng khởi nguyên của Kinh Dịch, tư tưởng triết học của người Á Đông về quy luật của sự biến đổi. Nó được vận dụng vào rất nhiều lĩnh vực như vũ trụ, thiên văn, địa lý, phong thủy, trị nước, nhân mệnh…
Đề tài Long Mã Hà đồ gắn với tích Vua Phục Hy trong một lần đi dạo sông Hoàng Hà nhìn thấy một con Long Mã đang bơi tới, trên lưng có các xoáy đen trắng. Nhân đó Vua vẽ lại thành Hà đồ, còn gọi là Tiên thiên bát quái đồ. Đề tài Thần Quy Lạc thư bắt nguồn từ tích vua Đại Vũ trị thủy sông Lạc, nhìn thấy một con rùa trên lưng có các chấm đen trắng. Vua theo đó đặt ra Lạc Thư, còn gọi là Hậu thiên bát quái đồ.


Hình Long Mã - Hà đồ trên hũ gốm hoa lam. Thời Nguyễn, niên hiệu Gia Long (1802 - 1920).
5. Ngựa có cánh
Ngựa có cánh (Pegasus) là một loại ngựa thần trong văn hóa phương Tây, biểu tượng của sự thông thái, minh triết. Ngựa có cánh được truyền vào Việt Nam từ thời Lê sơ (thế kỷ 15), trên đồ gốm xuất khẩu thông qua đặt hàng của thương nhân phương Tây và tiếp tục được sử dụng trong trang trí kiến trúc và đồ gốm thời Mạc - Lê Trung Hưng (thế kỷ 16 - 18).


Hình Ngựa có cánh trên gạch trang trí. Đất nung. Thời Mạc, thế kỷ 16.
6. Phượng
Theo truyền thuyết, Phượng là vua của các loài chim, mang nhiều đức tính, phẩm hạnh cao đẹp. Phượng chỉ xuất hiện vào thời thái bình và ẩn mình khi thời loạn lạc nên nó là biểu tượng cho thái bình thịnh trị. Ngoài ra, Phượng còn là hình ảnh tượng trưng cho hoàng thái hậu, hoàng hậu, công chúa cũng như phụ nữ quý tộc thời phong kiến. Ở Việt Nam, Phượng là đề tài trang trí phổ biến ở mọi thời đại, trên mọi lĩnh vực nghệ thuật khác nhau.


Hình Phượng trang trí trên hộp trầu. Vàng. Thời Nguyễn, thế kỷ 19 - 20
(Sưu tập hiện vật cung đình triều Nguyễn)
8. Cá hóa Rồng
Cá hoá Rồng vốn là truyền thuyết được lưu truyền phổ biến ở Việt Nam, gắn với tích “Ngư dược Vũ môn” của khoa cử Nho học, tượng trưng cho sự kiên trì, bền chí chinh phục tri thức để đi tới thành công của các sĩ tử. Trong nghệ thuật Việt Nam, đề tài cá hóa rồng bắt đầu xuất hiện từ thời Trần (thế kỷ 13 - 14) về sau, nhưng phổ biến và đạt tới đỉnh cao nghệ thuật vào thời Lê sơ (thế kỷ 15).


Hình Cá hóa Rồng trên đĩa gốm nhiều màu. Thời Lê sơ, thế kỷ 15
(Hiện vật tàu đắm cổ Cù Lao Chàm, Quảng Nam)
9. Si Vẫn (con Kìm)
Theo truyền thuyết, Si Vẫn là động vật biển có đuôi cong tròn, đập sóng thì mưa xuống. Bởi vậy, người xưa thường đắp nó trên nóc mái các công trình kiến trúc với ý nghĩa phòng ngừa hoả hoạn. Ở Việt Nam, Si Vẫn còn được gọi với tục danh là con Kìm, trong nhiều hình thức khác nhau: hình đầu rồng, hình rồng; hình cá, hình đầu rồng đuôi cá; hình đuôi Si, hình đầu rồng đuôi Si...


Si Vẫn hình đầu Rồng (Long Vẫn). Đá. Thời Lê Sơ, thế kỷ 15.
(Thái miếu nhà Lê ở Lam Kinh, Thanh Hóa)
10. Bồ Lao
Theo truyền thuyết, Bồ Lao là động vật biển, thích âm thanh lớn, thích gầm rống. Bồ Lao rất sợ cá kình, khi bị cá kình đuổi đánh thì kêu rất to. Người xưa khi đúc chuông thường tạo quai hình Bồ Lao, còn dùi thì làm theo hình cá kình với mong muốn tiếng chuông kêu vang xa. Do đó, "bồ lao" cũng dùng để chỉ tiếng chuông chùa. Ở Việt Nam, Bồ Lao thường được thể hiện dưới dạng hình Rồng hai đầu.


Bồ lao trên quai chuông chùa Vân Bản (Hải Phòng). Đồng. Thời Trần,
thế kỷ 13 – 14.
11. Thao Thiết
Theo truyền thuyết, Thao Thiết là một con vật ham ăn vô độ, thậm chí có thể ăn cả cơ thể mình. Vì vậy, hình ảnh Thao Thiết chỉ là phần đầu với hai chân trước nhìn chính diện trông vừa dữ tợn, vừa uy nghi. Ban đầu, hình Thao Thiết được trang trí trên bộ đồ ăn nhằm nhắc nhở việc ứng xử lịch sự trong ăn uống. Về sau, hình Thao Thiết xuất hiện trên nhiều loại vật dụng khác, tượng trưng cho sự no đủ, bền vững.


Hình Thao thiết trên đồ cúng tế. Ngọc. Thời Nguyễn, thế kỷ 19 – 20.
(Sưu tập cổ vật Cung đình triều Nguyễn)
12. Tiêu Đồ
Theo truyền thuyết, Tiêu Đồ là linh vật có tính khí lười biếng, thường cuộn tròn nằm ngủ, không thích có kẻ lạ xâm nhập lãnh địa của mình. Bởi vậy Tiêu Đồ thường được chạm trên tay nắm cửa ra vào, ngụ ý răn đe kẻ lạ muốn xâm nhập, bảo vệ sự an toàn cho chủ nhà. Ở Việt Nam, hình tượng Tiêu Đồ mới chỉ gặp trên những chiếc tay nắm cửa đồng thế kỷ 1 – 3.


Tay nắm cửa hình Tiêu Đồ. Đồng, thế kỷ 1 – 3.
13. Tích Tà
Tích Tà là linh vật huyền thoại có nguồn gốc Á Đông, hình thức giống như Sư tử có cánh. Đây là linh vật trấn giữ mang ý nghĩa biểu tượng trừ tà, xua đuổi điều xấu, mang lại tốt lành. Hình tượng Tích Tà xuất hiện trong nghệ thuật tạo hình Việt Nam giai đoạn những thế kỷ đầu Công nguyên, trên các hiện vật chất liệu đồng và gốm.


Đèn hình Tích tà. Đồng. Thế kỷ 1 - 3
14. Chim thần Garuda
Garuda là một loại chim thần có nguồn gốc từ Ấn Độ, thường được miêu tả trong hình thức người - chim, tượng trưng cho sức mạnh và chân lý. Ở Việt Nam, Garuda xuất hiện trong nghệ thuật Champa với tư cách là một vị Thần Ấn Độ giáo, là biểu trưng và vật cưỡi của Thần Vishnu. Trong nghệ thuật Phật giáo Đại Việt từ thời Lý (thế kỷ 11 - 13) đến thời Mạc (thế kỷ 16), Garuda là linh vật trấn giữ các góc tháp, đỡ góc bệ thờ hoặc mái đao chùa... Garuda là hình ảnh tiêu biểu cho sự giao lưu văn hóa Đại Việt - Champa.


Garuda đỡ góc bệ thờ Chùa Thầy (Hà Nội). Đá. Thời Trần, thế kỷ 13 – 14.
15. Sư tử / Nghê
Sư tử nguyên là linh vật Phật giáo, được truyền vào Việt Nam theo sự du nhập của Phật giáo, nhưng được cải biến phù hợp với truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc. Từ thời Trần (thế kỷ 13 – 14), khi Nho giáo phát triển, Sư tử được chọn làm biểu tượng của sức mạnh vương quyền thì hình tượng Sư tử xuất hiện phổ biến ở nhiều loại hình nghệ thuật khác nhau, vừa đa dạng về đặc điểm hình thức vừa truyền tải nhiều ý nghĩa biểu tượng tốt đẹp khác nhau. Về đặc điểm tạo hình cơ bản có hai loại: hình Sư tử (các chi tiết hình thể của sư tử) và kết hợp đặc điểm Sư tử - Chó (đầu Sư tử, thân Chó). Trong đó, hình Sư tử xuất hiện ở mọi thời đại, trên nhiều loại hình nghệ thuật khác nhau. Hình Sư tử - Chó ít nhất bắt đầu xuất hiện từ thời Lê sơ (thế kỷ 15), chủ yếu trên đồ thờ cúng, trong trang trí kiến trúc hoặc trong tư cách là linh vật trấn giữ…
Cũng như các nước Á Đông, ở Việt Nam, Sư tử còn có tên gọi khác là Nghê. Ở Trung Quốc và Nhật Bản, Sư tử được gọi là Nghê khi tạc làm bệ tượng Phật, là vật cưỡi của Văn Thù Bồ Tát, đội lư hương hoặc ngồi trên nắp đỉnh trầm, dù đều trong hình tướng Sư tử. Ở Việt Nam thì diễn biến khá phức tạp. Thông thường, linh vật này được gọi là Sư tử khi tạo theo hình tướng Sư tử, gọi là Nghê khi mang đặc điểm kết hợp của Sư tử và Chó. Tuy nhiên, nhiều khi, những hình sư tử nhỏ trong trang trí hoặc đồ thờ cúng cũng được gọi là Nghê hoặc Lân. Có những linh vật trong hình Sư tử - Chó, dân gian thường gọi là Nghê, nhưng trong văn bản chính thống ghi chép về việc tạo tác này vẫn gọi là Sư tử… Bệ tượng Phật tạo hình Sư tử thường gọi là “Sư tử tọa”, nhưng đôi khi cũng gọi là “Nghê tòa”, tục danh gọi là Ông Sấm...
Hình tượng Sư tử - Nghê giới thiệu trong trưng bày này, chú thích là Sư tử tức chỉ linh vật trong hình tướng sư tử, gọi là Nghê khi linh vật mang đặc điểm tạo hình sư tử - chó. Những hình Nghê/ Sư tử được gọi theo nhiều các khác nhau, chú thích sẽ nêu tên gọi chính thống/ phổ biến lên trước, kèm theo các tên dân gian thường gọi khác.


Hình Sư tử (Nghê/Lân) gắn trên nắp đỉnh trầm. Gốm men rạn.
Thời Lê Trung Hưng, niên hiệu Vĩnh Hựu 2 (1736).
16. Hổ
Ở Việt Nam, Hổ được coi là chúa sơn lâm. Bởi vậy, Hổ đã được linh hóa, biểu trưng cho quyền uy và sức mạnh giống như Sư tử. Hổ thường được đặt trấn giữ ở cổng các công trình kiến trúc cổ. Trong điện thờ Mẫu thường có ban thờ Ngũ Hổ, với 5 màu vàng, xanh, trắng, đỏ, đen, tượng trưng cho Ngũ Hành, trấn giữ 5 phương.


Cặp tượng Hổ. Đá. Thời Lê Trung Hưng, thế kỷ 17 - 18. (Văn Miếu Hưng Yên).
17. Voi
Voi vốn là linh vật Phật giáo, tượng trưng cho chân lý, trí tuệ và sự kiên định. Đức Phật cũng từng được đầu thai dưới dạng Voi trắng trong giấc mơ của Hoàng hậu Maya. Voi còn là vật cưỡi của Phổ Hiền Bồ Tát. Với ý nghĩa như vậy, voi cũng hiện diện trong nghệ thuật Phật giáo Việt Nam. Đồng thời, voi còn là linh vật có sức mạnh trấn giữ khi đặt hai bên đường Thần đạo trước lăng mộ hoặc phủ phục trước cổng đền, miếu...


Voi cõng bình. Gốm men rạn. Thời Lê Trung Hưng, thế kỷ 17 – 18.
18. Khỉ
Theo Phật thoại, Khỉ là đệ tử rất thành tâm đến với Đức Phật. Ở Việt Nam đã tìm thấy khá nhiều tượng khỉ tại di tích Tháp Chương Sơn (Nam Định), thời Lý. Bộ tượng 3 con khỉ: con che mắt, con bịt miệng, con bịt tai, thể hiện triết lý Tam Không của Phật giáo: không nhìn điều xấu, không nói điều xấu và không nghe điều xấu.


Tượng Khỉ bịt tai trong bộ tượng "Khỉ Tam Không". Đá. Thời Lý, thế kỷ 11- 13. (Tháp Chương Sơn, Ý Yên, Nam Định).
19. Chó
Chó là linh vật gần gũi với đời sống tâm linh của người Việt Nam. Người Việt Nam thường tạc chó đá trấn giữ trước cổng nhà hoặc cổng đình, đền, miếu, phủ... để cầu phúc, trừ tà. Chó đá ở nhà dân thường nhỏ, không to lớn như chó đá ở các công trình kiến trúc tôn giáo, tín ngưỡng. Nhiều nơi còn có tục thờ Chó.


Tượng Chó. Đá. Thời Lê Trung Hưng, thế kỷ 17 – 18.
20. Rắn
Đối với người Việt, Rắn là biểu tượng của Thần Nước, đại diện cho hai thành tố đối lập tốt và xấu. Tín ngưỡng nguyên thủy của người Việt có tục thờ Rắn, mang ý niệm về sông nước của cư dân làm nông nghiệp. Hình ảnh đôi Rắn quấn nhau là biểu tượng của phồn thực, cội nguồn sinh sôi, sự sống. Mặc dù vậy, Rắn dường như ít xuất hiện trong nghệ thuật tạo hình.
Trong văn hóa Champa, Rắn được gọi là Naga, vua của loài rắn, được du nhập vào theo Ấn Độ giáo. Naga là anh em họ và là kẻ thù của Chim thần Garuda. Bởi vậy, Naga thường được thể hiện trong hình thức bị chim Thần Garuda tiêu diệt.


Tượng rắn đầu người. Gốm men trắng. Thời Nguyễn, thế kỷ 19 – 20.
21. Hạc
Hạc vốn là linh vật của Đạo giáo, tượng trưng cho sự thanh cao, thoát tục,  trường sinh bất tử. Tuy nhiên, ở Việt Nam việc sử dụng hỗn hợp các hình tượng tôn giáo khá phổ biến. Bởi vậy, Hạc cũng trở thành biểu tượng văn hóa của Phật giáo, Nho giáo... Hạc thường được mô tả đứng chầu trên lưng Rùa hoặc trong đề tài Tiên cưỡi Hạc trên điêu khắc đình làng.


Đèn hình Hạc cưỡi Rùa. Đồng. Thời Nguyễn, thế kỷ 19 – 20.
22. Uyên Ương
Theo Phật thoại, Uyên Ương (Vịt) là một trong các hóa thân của Đức Phật. Trong nghệ thuật Việt Nam, Uyên Ương xuất hiện phổ biến trong trang trí kiến trúc cung đình và chùa, tháp thời Lý - Trần (thế kỷ 11 - 14), trong tư thế dang cánh đậu trên các viên ngói bò lợp mái.
23. 12 con giáp
Ở Việt Nam, 12 con Giáp gồm Chuột (Tí), Trâu (Sửu), Hổ (Dần), Mèo (Mão), Rồng (Thìn), Rắn (Tị), Ngựa (Ngọ), Dê (Mùi), Khỉ (Thân), Gà (Dậu), Chó (Tuất), Lợn (Hợi), tương ứng với 12 chi trong lịch pháp Á Đông, dùng để tính thời gian theo chu kỳ quay của Mặt Trăng. 12 con Giáp còn được dùng để liên kết các yếu tố liên quan đến vận mệnh, cuộc sống con người.


Tượng Trâu (Sửu) trong bộ tượng 12 con Giáp. Ngọc. Thời Nguyễn, thế kỷ 19 – 20.
(Sưu tập cổ vật Cung đình triều Nguyễn)
Với mỗi linh vật, bên cạnh hiện vật gốc, để đảm bảo kể đầy đủ, khách quan câu chuyện và hành trình lịch sử của chúng, trưng bày còn giới thiệu mở rộng thêm bằng các tài liệu khoa học phụ, hình ảnh, thuyết minh trong màn hình cảm ứng. Ngoài ra, 3 linh vật là Sấu, Tù Ngưu, Nhai Tí, do điều kiện không gian trưng bày, chúng tôi cũng giới thiệu bổ sung trong màn hình cảm ứng này.
24. Hình tượng Sấu
Sấu, còn gọi là “Sóc” hoặc “Sấu nghê sóc”, xuất hiện trong nghệ thuật Việt Nam bắt đầu từ thời Lý, tồn tại tới thời Lê Trung Hưng (thế kỷ 17 - 18). Sấu có đầu Sư tử, đuôi sóc. Ngoại trừ đặc điểm tạo hình và mức độ phổ biến có sự thay đổi theo thời gian, đây là linh vật khá ổn định trong chức năng sử dụng và ý nghĩa biểu tượng, thường được thể hiện trên mặt dốc thành bậc trước cửa chùa, tháp hoặc lăng mộ. Đây cũng là linh vật độc đáo của nghệ thuật Việt Nam, chưa từng thấy xuất hiện trong bất cứ nền nghệ thuật nào trên thế giới.


Sấu thành bậc. Đá. Thời Trần, thế kỷ 13 – 14. Chùa Phổ Minh, Nam Định.
25. Nhai Tí
Theo truyền thuyết, Nhai tí là con vật có thân rồng, đầu sói, tính cách cương liệt hung dữ nhưng ngay thẳng, hiếu sát, thích chiến đấu. Vì thế Nhai Tí thường được trang trí ở đốc, chuôi, khâu đao, kiếm… ngụ ý thị uy, làm tăng thêm sức mạnh và lòng can đảm của các chiến binh khi chiến đấu.


Hình Nhai Tí trang trí trên đốc kiếm. Vàng, kim loại, đá quý. Thời Nguyễn,
thế kỷ 19 – 20. (Sưu tập cổ vật Cung đình triều Nguyễn).
26. Tù Ngưu
Theo truyền thuyết, Tù Ngưu là linh vật rất ham mê âm nhạc, thích gảy đàn, đạt được nhiều thành tựu về âm nhạc. Vì thế người xưa thường tạo hình Tù Ngưu ở đầu cần các loại đàn cầm.
Số lượng linh vật là hiện vật gốc giới thiệu trong trưng bày là 27, bao gồm cả Chuột, Trâu, Dê, Gà, Lợn trong bộ tượng 12 con Giáp. Nếu tính cả 3 linh vật giới thiệu mở rộng trong màn hình cảm ứng thì tổng cộng có 30 linh vật được giới thiệu trong trưng bày chuyên đề “Linh vật Việt Nam”.


Ths. Nguyễn Quốc Hữu (Phó Trưởng phòng Trưng bày)

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Thông Báo - Giấy Mời - Văn Bản

Hiện Vật Tiêu Biểu

  • Tên hình ảnh 1
  • Ảnh khai thác cổ vật
  • Tên hình ảnh 1
  • Tên hình ảnh 1
  • Chèo bả trạo
  • Lễ nghinh ông
  • Bình gốm
  • Đàn đá
  • Rìu đá
  • Vươn miện của vua và hoàng hậu

Thư Viện Video Clip

Văn hóa Chăm Pa

Văn hóa Chăm Pa

Đã xem: 293
13/02/2017
Khai quật cổ vật

Khai quật cổ vật

Đã xem: 284
13/02/2017

Liên Kết WebSite

Thống Kê Truy Cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 53


Hôm nayHôm nay : 1333

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 10207

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 2782834

Đường Đi